Việt Ngữ

vanlang

Văn Lang Vietnamese Language & Culture Education Center

vanlang3 Vietnamese Text Book Level 1 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Review 1
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 2 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Review 2
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 3 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Review 3
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 4 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Review 4
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 5 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Review 5
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 6 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Review 6
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 7 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Review 7
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 8 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14     Review 8
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 9 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14     Review 9
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 10 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14     Review 10
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 11 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14     Review 11
vanlang3 Vietnamese Text Book Level 12 Lesson 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14      

 

Lời Mở Đầu

 

Hiện nay con em chúng ta rộn rã đến trường vào mỗi cuối tuần để tìm về nguồn cội Việt Nam.  Vì vậy, Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang San Jose cố gắng biên soạn bộ sách giáo khoa tiếng Việt “Chúng Em Cùng Học” gồm 12 tập.

Mục tiêu nhằm khuyến khích các em biết đọc, biết viết tiếng Mẹ thân thương và thấm nhuần phong tục tập quán cùng lịch sử của tổ tiên.  Sách được soạn từ dễ đến khó: từ cấp lớp 1 đến cấp lớp 12.  Mỗi tập gồm có 15 bài học trong lớp và 15 bài làm ở nhà. — Riêng 5 tập đầu có 16 bài.  Ngoài ra còn có hai kì thi giữa khóa và cuối khóa để kiểm nhận trình độ học vấn của các em.

Thời gian để hướng dẫn sửa bài làm ở nhà và học bài mới tại lớp là 2 giờ 30 phút, không kể 30 phút ra chơi trong một buổi học.

Về cách phát âm chữ cái và ráp vần, chúng tôi áp dụng theo cuốn “Cẩm Nang Sư Phạm” do công trình biên soạn chung của nhiều nhà giáo khả kính và giàu kinh nghiệm trong ban đại diện các Trung Tâm Việt Ngữ miền Nam California. Tập sách này đã được tái bản tháng 7 năm 1996.

Về cách viết tiếng có I (ngắn) hay Y (dài), chúng tôi căn cứ vào cuốn “Tự Điển Việt Nam” của hội Khai Trí Tiến Đức do nhà xuất bản Trung Bắc Tân Văn ấn hành tại Hà Nội năm 1931, trong khi chờ đợi một chuẩn mực chính tả chung trong tương lai.

Nhân dịp này, kính mong quý văn, thi sĩ cũng như quý giáo chức rộng lòng cho phép chúng tôi được dùng những bài văn, thơ của quý vị để làm tài liệu giảng dạy.  Và mặc dù đã cố gắng nhiều, chúng tôi ước mong quý vị có nhiệt tâm với tiếng Việt chỉ giáo những thiếu sót để cho bộ sách “Chúng Em Cùng Học” ngày được hoàn hảo hơn.

Xin quý vị nhận nơi đây lời tri ân chân thành của chúng tôi. Trân trọng,

Ban Tu Thư

Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang San Jose, California, U . S. A.

 

TTVN Văn Lang
P.O. Box 32563
San Jose, CA 95152, USA

ĐỊNH NGHĨA

 

I –  CHỮ         Chữ là dấu hiệu viết ra, chắp lại với nhau để biểu thị tiếng nói.

Tiếng Việt có 23 chữ cái:

a,  b,  c, d,  đ,  e, g, h, i, k, l, m, n, o, p, q, r,  s,  t, u,  v, x,  y.

 

II –  ÂM         Âm là giọng.  Âm có âm trầm (tức là giọng thấp) và âm bổng (tức là giọng cao).

Để ghi âm tiếng Việt, chúng ta có nguyên âm, phụ âm đơn và phụ âm ghép:

– 12  nguyên âm:      a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y.

– 17  phụ âm đơn:    b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x.

– 11  phụ âm ghép: ch, gh, gi, kh, ng, ngh, nh, ph, qu, th, tr.

 

III – VẦN       Vần, do một nguyên âm đứng một mình, hay ghép với một hoặc nhiều âm khác mà thành. Vần có thể là một tiếng hay một phần của tiếng.  Vần đôi khi không có nghĩa.

 

Thí dụ: a, o, ui, iêt, ong, iêng, ươm v. v. . .

 

IV – TIẾNG   Tiếng do một nguyên âm đứng riêng hay do nhiều âm ráp lại mà thành. Tiếng

đôi khi không có nghĩa.

 

Thí dụ:             A! bông hoa đẹp quá.

 

Câu này có năm tiếng.

 

V – TỪ           Từ do một hay nhiều tiếng ghép lại. Từ có từ đơn và từ ghép. Từ luôn luôn có ý nghĩa.

 

Thí dụ:

A, ba, nhà là ba từ đơn.

Học sinh, thầy giáo, cô giáo, máy bay trực thăng là bốn từ ghép.

 

Những Nguyên Tắc Viết Chính Tả

(Thầy cô tùy nghi áp dụng về các dấu trong khi giảng dạy)

 

A- Vị trí chung cho các dấu giọng.

 

1)  Những từ chỉ có một nguyên âm mang dấu mũ hay không có dấu mũ —  a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư   —, thì dấu giọng được viết ở nguyên âm ấy như :

–  Ăn qu nh k trng cây.

–  Gn mc thì đen, gn đèn thì rng.

 

2)  Nếu từ có hai nguyên âm đứng sau phụ âm thì dấu giọng phải được viết ở nguyên âm đầu như :

–  Chị Thùy bỏ kẹo vào túi áo.

–  Cái răng cái tóc là vóc con người.

 

3)  Nếu từ có hai nguyên âm ở giữa hay đằng trước phụ âm thì dấu giọng phải được viết ở

nguyên âm sau như :

–  Cụ Tn thích ăn oản.

–  Nước Việt Nam có ba miền : Bắc, Trung, Nam.

 

4)  Nếu từ có ba nguyên âm thì dấu giọng ở vào vị trí nguyên âm giữa như :

–  Hãy yêu thương người đồng loại.

–  Ông bà ngoại em có lòng đoái thương người thiếu ăn, thiếu mặc.

 

C- Viết Chính Tả Với Chữ I và Y

Vào năm 1931, hội Khai Trí Tiến Đức cho xuất bản bộ “Việt Nam Tự Điển” tại Hà Nội. Kể từ đó đến nay chúng ta được biết nhiều nhà văn, nhà giáo đã góp ý kiến hoặc viết sách báo theo chuẩn mực chính tả đề cập trong bộ tự điển này.

Gần đây một nhà văn bày tỏ thêm ý kiến như sau:

 

“Việt Nam Tự Điển” của hội Khai Trí Tiến Đức, do nhà xuất bản Trung Bắc Tân Văn ấn hành tại Hà Nội năm 1931 phân biệt khá rõ rệt trường hợp nào viết với chữ I và trường hợp nào viết với chữ Y.

Những hội nghị về chữ quốc ngữ, điển hình là “Hội Nghị Thống Nhất Ngôn Ngữ” (1956) hay những ủy ban chuyên môn nghiên cứu về chữ quốc ngữ để nêu ra nguyên tắc chính tả, như “Ủy Ban Điển chế Văn tự” (1973) đều nhấn mạnh cần sử dụng bộ “Việt Nam Tự Điển” của hội Khai Trí Tiến Đức làm tiêu chuẩn.  Tiếc là không mấy ai chú ý đến những lời khuyến cáo này. Để rồi vẫn viết sai nhiều chữ mà tưởng là mình viết đúng.  Trong đó có trường hợp lẫn lộn giữa chữ  I  và chữ Y. Lâu dần, sự sai lầm đó trở nên phổ quát hầu như không thể nào sửa lại được nữa cho những người quen dùng.

 

Nay chúng tôi biên soạn bộ sách giáo khoa “Chúng Em Cùng Học”. Ban Tu Thư của trường Việt Ngữ Văn Lang San Jose dựa theo nguyên tắc chính tả trong bộ tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức để giúp các em bớt khó khăn khi ráp vần và viết chính tả với chữ I  và chữ Y.

Xin nêu ra đây những nhận định tiêu biểu :

I. Về chữ i.

Chỉ viết chữ  i khi i ngắn là nguyên âm duy nhất trong một tiếng hay một từ như :

Trước kia viết:                                               Nay sẽ viết:

lý do                                                                lí do

địa lý                                                               địa lí

đi tnạn                                                          đi tnạn một tđồng một tđồng v. v. . .

 

II. Về chữ y.

Chỉ viết chữ  dài trong những trường hợp sau đây :

  1. Tự nó (chữ y) là một tiếng có đủ nghĩa như :

chú ý                                       ngồi

ý kiến                                      y phục

lại                                        v. v. . .

 

  1. Tuy y  và  i  đồng âm nhưng khác nghĩa khi ráp vần. Cho nên vần mà có nguyên âm  y  dài phải được sử dụng chính xác, không thể viết lẫn lộn với nguyên âm   i ngắn được như :
  • Từ có vần:
 
  • Từ có vần:
nước chảy (ay) không thể viết nước chải (ai)
ngày nay    (ay) không thể viết ngài nai (ai)
say túy lúy (uy) không thể viết say túi lúi (ui)
cô Thúy      (uy) không thể viết cô Thúi (ui)
v. v. . .    

 

  1. Với  y  dài hay   i  ngắn của danh từ riêng về người, về địa danh v. v. . . trước sau không thay đổi như :

 

Nguyễn Ngu   Í           (tên nhà văn)

Lý Thường Kiệt          (tên một danh tướng)

MTho                       (tên một tỉnh)

MQuốc                     (tên một nước)

v . v . . .

 

Chúng tôi hi vọng con em chúng ta sẽ không còn bối rối khi nào viết  i  ngắn và khi nào viết y dài.

 

 

UA-44413704-2